Nơi bắt đầu hành trình cây cà phê ở Việt Nam.


Ngành cà phê Việt Nam được đánh dấu từ năm 1857 do các linh mục thừa sai người Pháp mang về trồng thử nghiệm tại các nhà nhà thờ ở một số tỉnh phía Bắc như Hà Nam, Phủ Lý và sau đó lan rộng ra các tỉnh miền trung như Quảng Trị, Quảng Bình...

Đến năm 1888, đồn điền cà phê đầu tiên được người Pháp khởi sự nằm ở Kẻ Sở, Bắc Kỳ với giống cà phê chè (hay còn gọi là cà phê Arabica). Cũng kể từ giai đoạn này, Ngành cà phê sơ khai của nước ta bước vào những đoạn “loạn nhịp” của lịch sử, khi đương đầu với cuộc chiến giải phóng dân tộc – Một số tài liệu chỉ ghi chép rằng “hoạt động sản xuất cà phê bị gián đoạn trong và ngay sau chiến tranh”.

 
Cây cà phê trên đồn điền Cressonnière – 1898
 
 
Từ những năm 1920, người Pháp tiếp tục bành trướng, mở rộng khu vực thuộc địa ở vùng cao, chủ yếu ở tỉnh Đăk Lăk ở Tây Nguyên, theo đó cây cà phê được trồng thêm ở các vùng Tây Bắc, Phủ Quỳ- Nghệ An, Đắk Lắc, Lâm Đồng.

Nhà máy cà phê hòa tan đầu tiên được người Pháp xây dựng tại Biên Hòa – Đồng Nai vào năm 1969 – Nhà máy Cà phê Coronel, với công suất 80 tấn / năm.

 

Ngành cà phê sau năm 1975


Sau khi chiến tranh kết thúc kết thúc năm 1975, đất nước gần như trên đà lao dốc về mọi mặt kinh tế – chính trị – xã hội, trong đó các chính sách kinh tế được sao chép từ Liên Xô không còn phù hợp với tình hình nội tại của nước nhà bấy giờ.
Điển hình là mô hình nông nghiệp tập thể đã chứng tỏ sự kém hiệu quả, vì vậy vào năm 1986, Đảng và nhà nước đã thực hiện một “cú quay đầu” (công cuộc cải cách) – như một ván cược lớn, và cây cà phê đồng thời cũng năm trong số ấy
Sản xuất cà phê sau đó tăng 20% -30% mỗi năm trong những năm 1990, với những vườn cà phê nhỏ được trồng trên nửa triệu mảnh đất (từ hai đến ba mẫu). Điều này đã giúp chuyển đổi mạnh mẽ nền kinh tế. Lấy một số liệu điển hình như vào năm 1994, đất nước có khoảng 60% người sống dưới mức nghèo khổ, và hiện tại con số này chưa đến 10%, và chắc một điều, thanh tựu này không thể bỏ qua sự đóng góp mà cây cà phê mang lại.

Trong công cuộc cải cách, ngành cà phê đã được quốc hữu hóa, phát triển mạnh tại các tỉnh Tây Nguyên, doanh nghiệp tư nhân được nhân rộng, dẫn đến một sự phát triển đột biến của ngành công nghiệp chế biến cà phê. Mối liên kết hợp tác giữa người trồng, sản xuất và nhà nước đã đem đến kết quả trong việc xây dựng thương hiệu cà phê thành phẩm và xuất khẩu sản phẩm bán lẻ. Mà điển hình có thể kể đến là cà phê Trung Nguyên vào năm 1996 và Highlands Coffee vào năm 1998.
 
Cây cà phê Việt Nam
 
Năm 1990, nước ta mới chỉ sản xuất khoảng 1% sản lượng cà phê của thế giới. Sau đó, vào năm 2014, Việt Nam đã vượt qua Brazil để trở thành nhà xuất khẩu cà phê lớn nhất trên toàn thế giới.
 
Trong những năm gần đây các ban ngành, nhà nước đã tìm cách nâng cao chất lượng cà phê xuất khẩu
Những thống kê hàng triệu tấn cà phê xuất khẩu mổi năm, chưa thể bù lại cho khiếm khuyết về chất lượng khi mà sản xuất được tập trung vào giống Robusta (hay còn gọi là cà phê vối chiếm tới 95% sản lượng) với tiềm năng chất lượng thua kém Arabica, và chủ yếu nhằm phục vụ xuất khẩu như dưới dạng cà phê nhân thô, chưa qua chế biến.
 
 
 
 
 
 
 
Phần lớn cà phê nước ta thuộc giống Robusta nổi bật với vị đậm đắng.
 
 
 
Theo dòng thời gian, Robusta trở thành biểu tượng cho các phê Việt Nam, đóng góp một phần to lớn lợi ích kinh tế vào bức tranh xuất khẩu chung của Việt Nam. Giúp Việt Nam đứng thứ 2 trong những quốc gia xuất khẩu Cà phê lớn nhất thế giới. Vậy điều gì đã tạo nên sự đặc biệt cho Robusta của Việt Nam?
 
Hãy thưởng thức một ly coffee từ hạt Robusta của Mintown Coffee và cùng tìm ra câu trả lời cho riêng mình.

 
Mintown Coffee